Lịch sử và ý nghĩa Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7

Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7 hằng năm là dịp thiêng liêng để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tưởng nhớ, tri ân những anh hùng liệt sĩ, thương binh đã hy sinh, cống hiến xương máu cho độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc.

Theo Chỉ thị số 223/CTTW ngày 08/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, từ năm 1975, ngày 27/7 chính thức trở thành “Ngày Thương binh – Liệt sĩ” của cả nước.

Lịch sử hình thành Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7

Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã phải đối mặt với cuộc xâm lược trở lại của thực dân Pháp. Trong những năm đầu kháng chiến, hàng vạn chiến sĩ và đồng bào đã anh dũng hy sinh, để lại những mất mát to lớn cho đất nước và Nhân dân.

Xuất phát từ truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm sâu sắc tới thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng.

Đầu năm 1946, Hội giúp binh sĩ bị nạn được thành lập tại Thuận Hóa (Bình Trị Thiên), sau đó lan rộng ra Hà Nội và nhiều địa phương khác, rồi đổi tên thành Hội giúp binh sĩ bị thương. Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được suy tôn là Chủ tịch danh dự.

Ngày 28/5/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Tổng Hội tổ chức cuộc vận động lớn kêu gọi Nhân dân cả nước giúp đỡ chiến sĩ bị thương. Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tham dự, động viên và kêu gọi đồng bào cùng chung tay chăm lo cho bộ đội.

Một trong những phong trào tiêu biểu là cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ” do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng. Ngày 17/11/1946, lễ phát động được tổ chức long trọng tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Ngay tại buổi lễ, Bác đã cởi chiếc áo len đang mặc để tặng chiến sĩ, trở thành hình ảnh xúc động, lan tỏa sâu rộng trong Nhân dân.

Lịch sử và ý nghĩa ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7
Một bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh cựu binh.

Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ ngày 19/12/1946, số lượng thương binh, liệt sĩ ngày càng tăng, đời sống của nhiều chiến sĩ và gia đình gặp vô vàn khó khăn. Trước thực tế đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho thương binh, gia đình liệt sĩ.

Ngày 16/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 20/SL quy định chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ. Đây là văn bản pháp lý đầu tiên khẳng định vị trí đặc biệt của công tác thương binh, liệt sĩ trong chính sách của Nhà nước.

Tháng 6/1947, tại Đại Từ (Bắc Thái), đại biểu nhiều tổ chức đã họp bàn và thống nhất chọn ngày 27/7 hằng năm làm “Ngày Thương binh toàn quốc”. Từ đó, hằng năm vào dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gửi thư và quà thăm hỏi, động viên thương binh, gia đình liệt sĩ.

Từ năm 1955, “Ngày Thương binh toàn quốc” được đổi tên thành “Ngày Thương binh – Liệt sĩ” nhằm ghi nhận đầy đủ sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sĩ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, theo Chỉ thị số 223/CTTW ngày 08/7/1975, ngày 27/7 chính thức trở thành “Ngày Thương binh – Liệt sĩ” của cả nước, được duy trì cho đến ngày nay.

Lịch sử và ý nghĩa ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7
Thủ trưởng Bộ Tư lệnh Quân khu 4 viếng các anh hùng liệt sĩ, tháng 5/2025.

Ý nghĩa Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7

Ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7 mang ý nghĩa lịch sử, chính trị và nhân văn sâu sắc. Đây là dịp để toàn xã hội bày tỏ lòng biết ơn đối với những người đã hy sinh, cống hiến vì độc lập, tự do và hạnh phúc của Nhân dân.

Ngày này thể hiện rõ nét truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc Việt Nam, khẳng định đạo lý thủy chung, nghĩa tình của Đảng, Nhà nước và Nhân dân đối với các anh hùng liệt sĩ, thương binh và người có công.

Việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ không chỉ là trách nhiệm mà còn là vinh dự của các cấp, các ngành và của mỗi người dân hôm nay và mai sau.

Thông qua các hoạt động tri ân, Ngày Thương binh – Liệt sĩ còn góp phần giáo dục truyền thống cách mạng, bồi đắp lòng yêu nước, hun đúc ý chí, niềm tin của các thế hệ vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Bài viết liên quan